Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc Ngày mới, Tinh thần mới, Phục vụ mới, Đoàn kết mới, Hài lòng mới, Hoàn thành mới
 

Kiến thức y khoa

Bảng tin truyền thông Tuần 1 Tháng 4/2018

Bảng tin truyền thông Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc Tuần 1 (Tháng 4/2018)


 

BỆNH VIỆN ĐK SA ĐÉC

PHÒNG CTXH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bài 1.

Ngày phát: Ngày 03/4/2018

 

 

BẢN TIN TRUYỀN THÔNG

7 nguyên tắc sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh

--------

 

Thuốc nói chung cần phải sử dụng an toàn và hiệu quả. Riêng với kháng sinh là thuốc trị bệnh nhiễm khuẩn cần phải đặc biệt lưu ý. Bởi vì nếu sử dụng kháng sinh không hợp lý sẽ đưa đến tác hại rất lớn. Thứ nhất chính thuốc kháng sinh sẽ gây tai biến cho cơ thể ta như dị ứng, nhiễm độc các cơ quan, loạn khuẩn đường ruột làm tiêu chảy đôi khi rất trầm trọng. Tác hại thứ hai nghiêm trong hơn nhiều là nếu sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi sẽ gây hiện tượng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh. Hiện nay các nhà y học rất lo lắng vì thuốc kháng sinh trước đây tỏ ra rất tốt rất hiệu quả trong điều trị thì nay đã bị nhiều loại vi khuẩn đề kháng.

1. Chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự bị bệnh nhiễm khuẩn. Chỉ có thầy thuốc điều trị dựa vào kinh nghiệm chữa bệnh, dựa vào xét nghiệm, làm kháng sinh đồ mới xáx định được có nhiễm khuẩn hay không?

2. Phải chọn đúng loại kháng sinh Nếu chọn dùng kháng sinh không đúng loại bệnh thuốc sẽ không có hiệu quả

3. Phải có sự hiểu biết về thể trạng người bệnh. Ðặc biệt đối với các phụ nữ có thai, người già, người bị suy gan, suy thận, chỉ có thầy thuốc điều trị mới có đủ thẩm quyền cho sử dụng kháng sinh

4. Phải dùng kháng sinh đúng liều đúng cách.

5. Phải dùng kháng sinh đủ thời gian. Tùy theo loại bệnh và tình trạng bệnh thời gian dùng kháng sinh có khi dài khi ngắn nhưng thông thường là không dưới 5 ngày

6. Chỉ phối hợp nhiều loại kháng sinh khi thật cần thiết

7. Phòng ngừa bằng thuốc kháng sinh phải thật hợp lý. Chỉ có những trường hợp đặc biệt thầy thuốc mới cho dùng thuốc kháng sinh gọi là phòng ngừa. Thí dụ, dùng kháng sinh phòng ngừa trong phẫu thuật do nguy cơ nhiễm khuẩn hậu phẫu. Hoặc người bị viêm nội mạc tim đã chữa khỏi vẫn phải dùng kháng sinh để ngừa tái nhiễm

Bảo đảm được những điều trình bày ở trên cho thấy sử dụng kháng sinh hợp lý là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có kiến thức và trình độ chuyên môn. Do vậy, chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh theo sự chỉ định của bác sĩ và theo sự hướng dẫn của dược sĩ.

                                                                             Nguồn: Y khoa.net

 

          GIÁM ĐỐC                                                        PHÒNG CTXH

           

 


 

 

 

BỆNH VIỆN ĐK SA ĐÉC

PHÒNG CTXH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bài 2.

 

Ngày phát: Ngày 04/4/2018

 

BẢN TIN TRUYỀN THÔNG

Nguy hiểm khi dùng thuốc chống béo phì

--------

 

Một số loại thuốc và biện pháp giảm béo không có tác dụng:

Thuốc lợi tiểu: Chỉ dùng cho người bị suy tim, tăng huyết áp. Tác dụng giảm cân của thuốc là gây mất nước, vì thế cân nặng có thể trở lại như cũ sau khi dừng thuốc. Đặc biệt, nhóm lợi tiểu có thể làm tăng nguy cơ bị đái tháo đường, hoặc khiến bệnh sẵn có thêm trầm trọng. Nguy hiểm nhất là nguy cơ mất điện giải và mất nước cấp ở người dùng.

Thuốc nhuận tràng: Dùng khi táo bón hay để sổ ruột. Tác dụng và tác hại tương tự như thuốc lợi tiểu.

Hoóc môn tuyến giáp trạng: Chỉ dùng cho người bị suy tuyến giáp. Đối với người bình thường, thuốc có thể gây ức chế chức năng tuyến giáp, tăng nhịp tim, tiêu cơ bắp và kèm theo một số biến chứng nguy hiểm khác.

Thuốc trợ giúp chuyển hóa chất béo thực chất là giúp oxy hóa nội bào để tạo năng lượng. Tác dụng giảm cân không rõ ràng.

Thuốc đông y thường chưa được kiểm nghiệm đầy đủ. Một số ca tử vong vì suy gan do dùng thuốc đông y đã được ghi nhận ở Nhật Bản và Singapore.

Ngoài ra, những biện pháp như châm cứu và điều trị tại chỗ bằng thuốc xoa không tác động trực tiếp đến tình trạng béo phì. Xoa bóp tại chỗ cũng vô dụng.

Hiện nay có một số thuốc phổ biến trên thị trường có tác dụng giảm béo phì, song kèm theo nhiều phản ứng phụ nguy hiểm như:

Thuốc làm no đầy ống tiêu hóa coréine, décorpa, pseudpphage... hút nước trương nở làm đầy bụng, gây cảm giác chán ăn. Thuốc thường làm đầy hơi, chướng bụng, gây khó chịu.

Thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương như amphetamin, dẫn chất amphetamin, ephedrin, pseudoepedrin, phenylpropanolamin - PPA... khiến ăn mất ngon, tăng nhịp tim, huyết áp và gây khó ngủ. Đặc biệt thuốc có thể gây nghiện hoặc nhờn thuốc. Người dùng phải theo dõi cẩn thận nhịp tim, huyết áp trong thời gian uống thuốc. Vì thuốc chuyển hóa trong gan nên phải thận trọng khi dùng chung với các thuốc kháng sinh, an thần, corticoid và một số thuốc trị trầm cảm, chống đau nửa đầu, chữa ho... Ngoài ra, sau khi dừng thuốc, người bệnh thường chán nản, trầm cảm và có ý định tự sát..

Thuốc giảm hấp thụ chất béo Xenical được xem là nhóm an toàn nhất hiện nay. Xenical làm giảm hấp thu 30% năng lượng chất béo mỗi ngày. Xenical kém hấp thu vào máu, khoảng 97% lượng thuốc uống vào được thải trừ qua phân. Ngoài ra, thuốc có tác dụng tại chỗ nên không gây tác động lên hệ thần kinh trung ương và ít tác dụng phụ nguy hiểm nên bệnh nhân béo phì bị suy gan, suy thận không cần giảm liều. Xenical có thể được dùng trên 2 năm, không gây ảnh hưởng khi lái xe, vận hành máy móc và không tương tác với các thuốc khác. Tuy nhiên, loại này có thể gây đầy bụng, rối loạn tiêu hóa do rối loạn hấp thu mỡ, nên cần uống thuốc bổ sung vitamin A, E, K, D...

Nói chung, tác dụng phụ của thuốc giảm béo hoàn toàn có thể tránh được nếu người dùng tuân theo đúng chỉ định của bác sĩ và mua thuốc có nguồn gốc rõ ràng. Tuy vậy, cách giảm béo tốt nhất vẫn là một chế độ ăn uống hợp lý và năng vận động.

                                                                   Nguồn: Y khoa.net

 

 

          GIÁM ĐỐC                                                        PHÒNG CTXH

           


 

 

 

BỆNH VIỆN ĐK SA ĐÉC

PHÒNG CTXH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bài 3.

Ngày phát: Ngày 05/4/2018

 

BẢN TIN TRUYỀN THÔNG

Thoái hóa đốt sống cổ

--------

Bệnh thường xuất hiện ở người đã qua tuổi trung niên (40-50 tuổi); yếu tố nguy cơ là làm việc ở tư thế cúi, cử động nhiều ở vùng đầu cổ, cường độ lao động cao. Những người dễ bị thoái hóa đốt sống cổ nhất là thợ cấy, thợ cắt tóc, nha sĩ, thợ sơn trần, diễn viên xiếc...

Tùy theo loại bệnh, có thể trong một thời gian dài, người bệnh không thấy có cảm giác khác thường. Sau đó, những triệu chứng sau xuất hiện:

- Các động tác cổ bị vướng và đau; có thể thỉnh thoảng bị vẹo cổ.

- Cơn đau kéo dài từ gáy lan ra tai, cổ, ảnh hưởng tới tư thế đầu cổ, đau lan lên đầu, có thể nhức đầu ở vùng chẩm, vùng trán, đau từ gáy lan xuống bả vai, cánh tay ở một bên hay ở cả hai bên.

- Khám chỉ thấy các cử động ở cổ bị hạn chế (nặng); có thể cảm giác cứng gáy, có điểm đau khi ấn vào các gai xương và các mỏm ngang của cột sống cổ, chụp X-quang cột sống cổ thấy mất đường cong sinh lý, hẹp đĩa liên đốt, biến dạng ở thân đốt, có các gai xương.

- Với chứng thoái hóa đốt sống cổ ở cao (đoạn C1- C2 - C4), người bệnh còn có triệu chứng nấc, ngáp, chóng mặt.

Để đề phòng hiện tượng "gãy", trật khớp mỏm nha gây liệt tứ chi hoặc tử vong, người bệnh tuyệt đối không được "vặn", "ấn cổ", không nên nằm gối đầu quá cao.

Thoái hóa đốt sống cổ gây tổn thương vào lỗ tiếp hợp, có thể gây rối loạn tuần hoàn não. Người bệnh cần được thăm khám lâm sàng thần kinh kết hợp với thăm dò siêu âm để xử trí kịp thời.

Về điều trị, trước tiên, cần loại trừ chứng đau gáy chẩm, đau gáy bả vai, cánh tay do u hố sau, u tủy cổ. Khi đã xác định bệnh, cần điều trị thoái hóa, chủ yếu là dùng thuốc giảm đau thông thường và xoa - gõ vùng gáy, mặt, bụng.

Nên dùng thêm vitamin E (400 UI/ngày). Kết hợp điều trị phục hồi chức năng chung của toàn cơ thể (nhất là đối với người cao tuổi) với các hình thức thư giãn, sinh hoạt câu lạc bộ. Đối với người có nghề nghiệp dễ dẫn đến thoái hóa đốt sống cổ, cần phân phối đều giữa lao động và nghỉ ngơi, thư giãn, các xoa bóp phục hồi chức năng (nhất là các diễn viên xiếc).

 

Nguồn: Ykhoa.net

 

          GIÁM ĐỐC                                                        PHÒNG CTXH


 

 

 

BỆNH VIỆN ĐK SA ĐÉC

PHÒNG CTXH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bài 4.

Ngày phát: Ngày 06/4/2018

 

 

BẢN TIN TRUYỀN THÔNG

Sức khỏe phụ nữ tuổi mãn kinh

---------

 

Phụ nữ mãn kinh thường trải qua sự rối loạn vận mạch, các cơn bốc nóng mặt, vã mồ hôi ban đêm, hồi hộp, khó chịu. Nguyên nhân là cơ thể đang tập quen dần với tình trạng thiếu hụt oestrogen - hoóc môn sinh dục nữ.

Thời kỳ mãn kinh thường kéo dài 3-5 năm, từ lúc sắp hết kinh nguyệt với các dấu hiệu suy giảm chức năng buồng trứng, cho đến những năm đầu sau khi ngừng hẳn. Phụ nữ đến tuổi mãn kinh sớm là những người hút thuốc lá, uống rượu, chiếu tia xạ trị bệnh, bị rối loạn tự miễn, cắt tử cung nhưng còn chừa 2 buồng trứng…

 

Những thay đổi trong thời kỳ mãn kinh:

- Rối loạn kinh nguyệt: thường xảy ra vào giai đoạn gần mãn kinh với chu kỳ kinh nguyệt không đều. Lượng kinh thường nhiều ở giai đoạn gần mãn kinh rồi ít dần khi chức năng buồng trứng suy giảm và cuối cùng là mất hẳn.

- Rối loạn vận mạch: thỉnh thoảng có cơn bốc nóng mặt, vã mồ hôi ban đêm, hồi hộp khó chịu. Các triệu chứng này kéo dài độ vài năm rồi tự hết, do cơ thể đã quen dần với tình trạng thiếu hụt oestrogen. Tuy nhiên, cũng có người thấy những triệu chứng này nặng hơn sau mãn kinh.

- Tâm sinh lý thay đổi: dễ gắt gỏng, suy nhược thần kinh, mất ngủ, mất hứng thú trong quan hệ vợ chồng.

- Âm đạo khô teo gây đau khi giao hợp. Nhiễm trùng tiết niệu và són tiểu do niêm mạc đường tiết niệu cũng bị khô teo. Một số người đi tiểu nhiều lần, tiểu khó vì niệu đạo bị xơ cứng.

 

Hậu quả lâu dài của hiện tượng mãn kinh thường xảy ra từ từcho đến khi xảy ra các tai biến sau:

- Xương mất dần canxi và chất khoáng. Tuy nhiên, phụ nữ mãn kinh ít có cảm giác về loãng xương cho đến khi bị gãy xương không do chấn thương.

- Các tai biến do bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, suy động mạch vành.

 

Để đạt được một cuộc sống chất lượng sau mãn kinh, người phụ nữ cần: 

- Thực hiện lối sống lành mạch, tinh thần thanh thản, vui tươi.

- Vận động chân tay và trí não thường xuyên.

- Tránh những thức ăn không có lợi cho sức khỏe, nhất là các loại mỡ động vật, tránh ăn mặn quá hoặc ngọt quá. Nên ăn nhiều rau, quả tươi và các thức ăn chứa nhiều phytoestrogen như đậu hũ, sữa đậu nành, thức ăn chứa canxi như tôm, cua, cá, sữa không béo...

Nguồn: Ykhoa.Net

 

          GIÁM ĐỐC                                                        PHÒNG CTXH