Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc Ngày mới, Tinh thần mới, Phục vụ mới, Đoàn kết mới, Hài lòng mới, Hoàn thành mới
 

Thông tin thuốc

Thông tin thuốc Tháng 03/2015

Thông tin thuốc Tháng 03/2015


TỔ THÔNG TIN THUỐC        CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

                                                                                                                                                            Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc.

 

Báo cáo thông tin thuốc tháng 03/2015.

 

       BUN cao báo hiệu kết quả xấu với thuốc lợi tiểu quai trong suy tim

Theo một nghiên cứu mới, dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai sẽ làm cho thời gian sống sót tệ hại hơn với bệnh nhân suy tim mãn với BUN cao, nhưng lại cải thiện mức sống sót bệnh nhân suy tim có mức BUN bình thường.

Sự tìm thấy này gợi ý họat động hormone thần kinh cao hơn với thuốc lợi tiểu, phản ảnh qua BUN, liên quan chặt chẻ với kết quả xấu hơn, theo lời bác sĩ Jeffrey a. Testani ở đại học Pensylvania và cộng sự.

Nhưng thuốc lợi tiểu quai vẫn còn là điều trị chính để kiểm sóat thể tích máu tốt ở người suy tim, mặc dầu mỗi nghiên cứu đều thấy chúng tăng tử suất ở bệnh nhân suy tim phụ thuộc  liều lượng và ngay cả như vậy nhóm thuốc này có nhiều hiệu quả khác nhau.

Bs Testani và cộng sự nghi ngờ BUN , như là surrogal cho họat động hormone thần kinh, có thể giúp nhận diện bệnh nhân có nguy cơ kết quả tệ hại hơn với thuốc lợi tiểu.

Nghiên cứu nhắm vào 2456 bệnh nhân trong nghiên cứu đánh giá sống sót của beta-blocker và dùng ít nhất 10 mg thuốc lợi tiểu quai ở mức căn bản, gồm 680 (22.7%) dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai (≥ 160 mg). 1/3 bệnh nhân chết trong thời gian theo dõi trung điểm 721 ngày. Bệnh nhân dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai có nhiều phần chết cao gấp 1.56 lần so với người dùng liều thấp, tuy nhiên sự liên quan biến mất khi kiểm sóat được những đặc điểm ở mức căn bản.Khi BUN ≥ 21.0 mg/dL ở mức căn bản, tỷ lệ nguy cơ tử vong chưa điều chỉnh là 1.59 và sau khi điều chỉnh là 1.29. Nhì chung, không thấy liên quan giữasử dụng liều cao thuốc lợi tiểu quai và tử suất bệnh nhân với mức BUN dưới mức trung điểm, nhưng sau khi kiểm sóat các đặc điểm căn bản, tác già tìm thấy liều cao thuốc lợi tiểu quai cải thiện thời gian sống sót với tỷ lệ nguy cơ 0.71.Tuy nhiên còn quá sớm để thay đổi thực hành điều trị suy tim. Các nhà nghiên cứu đang tìm một chất đánh dấu nhạy cảm hơn và ít bị nhiễu hơn so với BUN.

Thuốc chống động kinh mới ở Âu châu:

Ezogabine hay retigabine là 1 chất chống động kinh mới vừa được phép đưa ra thị trường Âu châu dưới tên Trobalt và tại Hoa-kỳ dưới tên Potiga. Ezogabine là chất mở một số kênh Ka-li thần kinh, kéo theo K+ thóat ra ngòai, làm tăng phân cực tế bào và ổn định tế bào thần kinh.Thuốc có nhiều hàm lượng từ 50 mg đến 400 mg, và liều dùng từ 500 mg đến 1200 mg mỗi ngày, để điều trị chứng động kinh một phần đề kháng với những thuốc khác. Trong số những tác dụng phụ, gồm buồn ngủ, chóang váng, run, nhìn một thành hai, lọan khớp, lẫn lộn, có ý nghĩ tự vẫn, rối lọan tiểu tiện. Trên mặt dược động học, ezogabine không chuyển hóa qua men gan P450 và ít sinh tương tác với thuốc khác.

Chất xơ trong thức ăn và tử suất

Một nghiên cứu trong Archives of Internal medicine ngày 27.06.2011, các tác giả Hoa-kỳ chứng minh những người trong lứa tuổi 50 đến 71 khi bắt đầu nghiên cứu kéo dài trong 9 năm, thức ăn giàu chất xơ giảm từ 25% đến 60% tử suất tòan cầu, tử suất do nhiễm trùng hay đường hô hấp. Trong nghiên cứu này, chất xơ ngũ cốc có vẽ giữ vai trò quan trọng nhất. Những thức ăn giàu chất xơ gồm ngũ cốc, hạt (grains), cám, bánh mì nâu, trái cây và rau, hạnh nhân, câu ac-ti-sô, đậu petit pois.Hiện nay chưa có thuốc nào tác dụng lên mức tử vong ngang hàng với những chất xơ này.

Tiotropium dạng dung dịch khí dung tăng tử suất bệnh nhân COPD :

Tiotropium, thuốc kháng cholinergic, thường dùng dưới dạng bột hít (biệt dược Spiriva) cho bệnh COPD ở Hoa-kỳ. Dạng dung dịch khí dung với tên biệt dược Resprimat) chưa có ở Hoa-kỳ. Một phân tích meta của đại học Johns Hopkins tại Baltimore, dùng 5 nghiên cứu ngẩu nhiên có kiểm chứng để xem lại nguy cơ tử vong khi dùng thuốc này lâu dài. Họ thấy dung dịch khí dung Tiotropium liên quan với gia tăng đáng kể có ý nghĩa thống kê vể tử suất, tỷ số nguy cơ tương đối là 1.52.. Cả 2 hàm lượng 5 cg và 10 mcg của Tiotropium đều liên quan với gia tăng tử vong. số người cần thiết để điều trị (NNT) trong 1 năm với liều 5 mcg để tăng thêm 1 ca tử vong được ước lượng khỏang 124 người.

Theo BMJ 2011 ;342 :d3215.

 Dùng lâu dài thiazolidinedione liên quan với nguy cơ viêm phổi và nhiễm trùng đường hô hấp dưới :

Chúng ta biết Âu châu và Việt-nam đều đã cấm lưu hành thuốc cuối cùng của nhóm này là Pioglitazone, trong khi Hoa-kỳ vẫn cho dùng, nhưng phải đổi khung cảnh báo có nguy cơ ung thư bàng quang ở người có bệnh về bàng quang.

Thiazolidinedione là thuốc đồng vận thụ thể gamma kích họat tăng sinh peroxisome và có thêm tác dụng  điều hòa miển nhiễm. Các nhà nghiên cứu đại học y khoa Johns Hopkins tìm thấy 13 thử nghiệm (n=17627 với 8163 bệnh nhân dùng thiazolidinedione và 9464 bệnh nhân dùng giả dược) với thời gian theo dõi từ 1 đến 5 năm rưởi. Thiazolidinedione liên quan với gia tăng đáng kể với ý nghĩa thống kê nguy cơ viêm phổi và nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Theo Thorax 2011 ;66(5) :383-8

FDA không chấp thuận thuốc mới trị bệnh tiểu đường :

Ủy ban cố vấn FDA về bệnh nội tiết và chuyển hóa đã bầu quyết định khuyến cáo FDA không chấp thuận thuốc mới trị bệnh tiểu đường Dapaglifozin của Bristol-Myers Squibb và AstraZeneca. Ủy ban quan ngại thuốc này có thể gây ung thư vú và bàng quang, cũng như không có dữ liệu dược động học trong hồ sơ nạp cho FDA. Một bác sĩ tại đại học Vermont bảo thuốc này tăng nguy cơ ung thư gấp 5 lần.

Trị số INR đo tại phòng mạch không chính xác khi dùng Dabigatran : Chúng ta đã biết Dabigatran là thuốc chống đông máu mới tiện lợi hơn warfarin vì không cần phải theo dõi mức đông máu bằng cách đo PT/INR. Ngòai phương pháp đo INR tại phòng xét nghiệm, còn có thể đo INR tại phòng mạch dùng 1 phương pháp khác. Một số bệnh nhân đã được dùng Dabigatran và không biết vì lý do gì, bác sĩ cho thử lại mức INR bằng phương pháp đo ở phòng mạch (point of care). Họ ngạc nhiên khi thấy kết quả sai lạc so với kết quả làm ở phòng xét nghiệm.

 Ca thứ nhất, do 1 bác sĩ ở bệnh viện cựu chiến binh tại New York báo cáo. Một phụ nữ 59 tuổi bị rung nhĩ không rõ nguyên nhân nhập viện do nhịp nhĩ nhanh. Điều trị warfarin 10 mg được bắt đầu trong 3 ngày. Sau khi xuất viện, bác sĩ chăm sóc chính (primary doctor) cho ngưng warfarin và chuyển qua dabigatran 150 mg ngày 2 lần. Sau đó bệnh nhân được gởi đến phòng theo dõi chống đông máu để thử INR. Mức INR thử ở phòng mạch là 7.2, mức này thường không bao giờ đạt đến trong thực hành lâm sàng khi dùng liều dabigatran thích hợp. Nhưng khi thử lại tại phòng xét nghiệm thì INR chỉ còn 1.7. Một người đàn ông 70 tuổi thử INR tại phòng mạch là 2.2 mặc dầu đã ngưng warfarin 2 tuần trước. bác sĩ chuyển qua dabigatran và đo INR tại phòng mạch là 8.3 trong khi đo lại ở phòng xét nghiệm chỉ có 1.5.Do đó, nếu đã cho bệnh nhân dùng dabigatran, đừng đo INR và nhất là không dùng phương pháp thử tại phòng mạch vì kết quả sai lầm. Tác giả đề nghị nếu cần nên thử aPTT cho bệnh nhân dùng dabigatran.

 Theo Annals of Pharmacotherapy 28.06.2011

Dopamin tiết từ thận điều hòa huyết áp và tuổi thọ :

Chất dẫn truyền thần kinh dopamin giữ vai trò quan trọng trong não, kiểm sóat cử động, thúc đẩy họat động, tưởng thưởng, học hỏi và trí nhớ. Các nhà nghiên cứu của trung tâm y khoa đại học Vanderbilt chứng minh thận cũng có 1 hệ thống sản xuất dopamin, quan trọng cho chức năng thận, điều hòa huyết áp và tuổi thọ. Nghiên cứu này gợi ý hệ thống dopamin tiết từ thận có thể là địch nhắm điều trị để chửa cao huyết áp, bệnh thận do tiểu đường chẳng hạn.Theo bác sĩ Raymond Harris, trưởng khoa bệnh thận và bệnh cao huyết áp của đại học Vanderbilt, những nghiên cứu trước đây gợi ý vai trò của dopamin trong điều hòa chức năng thận và thể tích tòan cơ thể, nhưng cơ chế chưa rõ. Họ thấy chuột thiếu dopamin sản xuất ở thận bị cao huyết áp ở mức căn bản và huyết áp càng tăng cao khi dùng thêm muối ăn, có thể đây là mẫu cao huyết áp nhạy cảm với muối. Thay đổi hệ thống dopamin ở thận có thể làm động vật đó cao huyết áp. Họ cũng thấy lọai bỏ dopamin ở thận tăng sản xuất renin, kích họat hệ angiotensin II và tăng tái hấp thụ muối và nước. Có thể khám phá này sẽ đưa đến một phương pháp mới điều trị cao huyết áp. Nghiên cứu này được tài trợ một phần do viện quốc gia y tế Hoa-kỳ

                         Sa đéc, Ngày 03 tháng 03 năm 2015

                                         Người báo cáo

 

 

 

 

                                     Ds. Nguyễn Văn Tỷ

 

 

Nội dung khác